Châm cứu là một phương pháp chữa trị kinh điển của y học cổ truyền, đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới. Tuy nhiên không phải ai cũng hiểu hết về châm cứu, thậm chí những vấn đề đơn giản nhất như châm cứu là gì, châm cứu thời gian bao lâu,… cũng là câu hỏi khó khiến nhiều người bối rối. Vậy các bạn hãy tìm kiếm câu trả lời qua bài viết sau đây nhé!

CHÂM CỨU LÀ GÌ?

  Châm cứu là cách gọi chung của “châm pháp” và “cứu pháp”. “Châm” là dùng vật nhọn như kim hoặc que để đâm và kích thích lên huyệt vị, còn “cứu” là dùng hơi nóng tác động lên huyệt.

  "Châm" và "cứu" là hai phương pháp chữa bệnh xuất hiện rất sớm ở phương Đông.

  Thiên “Cửu châm thập nhị nguyên” trong “Linh khu” chia kim châm cứu thành chín loại với độ dài và chức năng khác nhau, gọi là “cửu châm”:

  Sàm châm: Dài 1 thốn 6 phân, dùng tiết tả dương khí.

  Viên châm: Dài 1 thốn 6 phân, châm cho khí giữa khoảng phận nhục tiết ra.

  Đề châm: Dài 3 thốn rưỡi, để kim tiếp xúc với khí.

  Phong châm: Dài 1 thốn 6 phân, dùng phát tiết tà khí.

  Phi châm: Dài 4 thốn, rộng 2 phân rưỡi, dùng để châm lấy mủ.

  Viên lợi châm: Dài 1 thốn 6 phân, dùng châm để lấy bạo khí.

  Hào châm: Dài 3 thốn 6 phân, dùng để dưỡng chính khí và trừ tà khí.

  Trường châm: Dài 7 thốn, dùng để lấy khí tý ở xa.

  Đại châm: Dài 4 thốn, dùng để tả thủy ở quan tiết.

Châm cứu

  Sau khi châm vào da thịt, căn cứ vào bệnh tình và thể chất từng người bệnh khác nhau mà dùng thủ pháp phù hợp nhằm đạt đến mục đích “thông kinh hoạt lạc, khử tà phù chính”, phương pháp này gọi chung là “châm”.

  "Cứu" là dùng lá ngải khô để chế thành ngải nhung, rồi lại dùng ngải nhung chế thành viên to nhỏ như mồi ngải hoặc cuốn thành điếu ngải, đốt lửa xong thì trực tiếp hoặc gián tiếp hơ hay đặt lên huyệt vị nhất định trên cơ thể người bệnh, thông qua sự kích thích ấm nóng này làm cho thông kinh lạc, đạt mục đích chữa trị và phòng trừ bệnh tật.

  Hai phương pháp trên tuy khác nhau nhưng sử dụng huyệt vị giống nhau, có khi cùng châm và cứu, nên thông thường được gọi là phép châm cứu.

  Châm cứu có 2 cách thức để thực hiện:

  Tác dụng vật lý học: Dùng vật nhọn đâm vào huyệt.

  Tác dụng hóa học: Kích thích vào các huyệt.

CHÂM CỨU THỜI GIAN BAO LÂU?

  Vấn đề thời gian lưu kim bao lâu còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau:

  Châm vào, rút ra ngay: Châm ra máu ở các huyệt Thập tuyên, Tứ phùng,…

  Châm vào để 10 - 30 giây: Châm ở các đầu ngón tay, ngón chân.

  Châm vào rồi để chừng vài phút: Châm cho trẻ em.

  Châm vào rồi để từ 5 - 10 phút hoặc tới 30 phút: Các trường hợp như bại liệt hoặc gài kim luôn ở trong huyệt như trong liệu pháp gài kim.

  Ngoài ra, phản ứng người bệnh càng yếu thì càng lưu châm lâu, phản ứng người bệnh càng mạnh thì càng lưu châm ít.

  Thiên “Châm giải” trong “Tố vấn” giải thích thêm: “Thích vào thực, muốn hư thì lưu châm chờ âm khí đến dưới châm nhiều rồi rút châm. Thích vào hư, muốn cho thực thì chờ dương khí đến dưới châm nhiều rồi rút châm”.

  Thiên “Quan châm” trong “Linh khu” ghi rằng: “Khi nào mạch còn ở trong sâu chưa hiện ra thì châm nhẹ vào trong và lưu kim lâu, nhằm tới nơi khí của ngũ tạng”.

  Và trong thiên “Tiểu châm giải” của “Linh khu” còn nói rõ hơn: “Khí chí nhi khứ chỉ” (khi nào khí đến thì rút kim ra), ý nói: áp dụng phép bổ tả khi nào khí được điều hòa thì mới rút kim.

Thời gian châm cứu còn tùy vào từng trường hợp cụ thể

  Như vậy, mục đích của lưu kim chính là chờ đợi khí đến, tức hiện tượng đắc khí. Nói theo y học hiện đại là khi đạt tới “ngưỡng”, tức tình trạng phản ứng của cơ thể đối với bệnh lý xảy ra và thể hiện qua các huyệt đang được châm.

  Vì thế, thiên “Hàn nhiệt bệnh” trong “Linh khu” cũng nhấn mạnh: “Phàm sự hại của phép châm là đã trúng bệnh mà không rút châm thì tinh tiết, chưa trúng bệnh mà đã rút châm thì tà khí lại đến. Tinh tiết thì bệnh nặng mà yếu, còn là tà khí lại đến thì mọc mụn”.

  Như vậy, thời gian châm cứu bao lâu là còn tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, đồng thời còn phải xem tay nghề của lương y. Châm cứu là kỹ thuật khá phức tạp, nếu lương y không nắm vững nguyên lý thì sẽ rất nguy hiểm.